***
Những năm tháng cuối thập niên 50 của thế kỷ trước, đất nước Việt Nam chìm trong nỗi buồn chia cắt. Hiệp định Genève đã ký kết được bốn năm, nhưng thay vì thống nhất, sự chia cắt lại càng trở nên sâu sắc hơn bao giờ hết. Vĩ tuyến 17 không chỉ là một đường kẻ trên bản đồ, mà là một vết cắt xẻ ngang lòng dân tộc.
Cuộc đấu tranh của đồng bào miền Nam, những cuộc đàn áp khốc liệt, và nỗi đau chia cắt gia đình đã khiến người dân khắp mọi miền rơi vào trạng thái hoang mang, bi quan, câu hỏi về ngày thống nhất dường như quá xa vời…
Trong bối cảnh chi cắt đau thương đó, nhạc sĩ Văn Ký đã viết Bài Ca Hy Vọng…

Niềm tin từ những chia lìa
Nhạc sĩ Văn Ký sinh năm 1928 tại xã Liên Minh, huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Cha mất sớm, Văn Ký được người chú đam mê văn chương nuôi dưỡng tại Thanh Hóa. Có lẽ cũng vì vậy, cái máu văn nghệ cũng ngấm vào người ông lúc nào không hay, cộng thêm mảnh đất xứ Thanh giàu bản sắc văn hóa đã làm nên một chàng trai Văn Ký với tâm hồn bay bổng, lãng mạn và đầy cảm xúc, cũng như ông luôn dành tình yêu lớn cho con người và mảnh đất nơi đây.
15 tuổi Văn Ký tham gia cách mạng. 18 tuổi, sau khi bị thất tình vì mối tình đầu bị chia cắt, Văn Ký viết ca khúc đầu tiên trong cuộc đời mình là Trăng xưa, khi đó ông còn chưa biết một nốt nhạc nào. Ca khúc ngay lập tức dành được sự chú ý và yêu mến của nhiều người với lời ca và giai điệu lãng mạn, tinh tế.
Nhận thấy khả năng âm nhạc đặc biệt của Văn Ký, cấp trên trong đơn vị cử ông đi học lớp âm nhạc Liên khu 4 tại Nghệ An. Và cũng từ đây, những sáng tác đầu tay của ông đã được ra đời như Bình Trị Thiên quật khởi, Tình hậu phương, Chiến thắng hòa bình… Năm 1954, 2 nhạc cảnh của ông là Dân công lên đường và Lúa thoái tô giành giải lớn tại tại Đại hội văn công toàn quốc.
Trong suốt cuộc đời âm nhạc của mình, Văn Ký sáng tác khoảng 400 tác phẩm, hầu như tất cả đều thể hiện một tình yêu trong sáng và sắt son với quê hương đất nước, với con người và dân tộc. Trong số đó, ca khúc được đông đảo nhân dân yêu mến nhất, phải kể đến Bài ca hy vọng, ca khúc được ông viết vào năm 1958, khi đó ông 30 tuổi.
Nhạc sỹ có kể lại rằng, đó là thời điểm đất nước bị chia cắt, phong trào cách mạng miền Nam bị đàn áp khốc liệt, Mỹ – Ngụy phá hoại hiệp định Geneva. Cảnh đất nước phân chia khiến cho người dân trên khắp cả nước đều vô cùng hoang mang và bất an. Cảm nhận rõ rệt được nỗi lo chung của dân tộc, những chia lìa đau thương ở cả hai miền, nhưng người nhạc sỹ lại có những cảm xúc khác biệt.
Ông kể lại, khi đó, “không ít người bi quan, hoang mang trước tương lai đất nước”, nhưng bản thân người nhạc sỹ lại vô cùng vững lòng và kiên định với một niềm tin lớn lao vào cuộc cách mạng đang đến hồi cam go khốc liệt. Và những giai điệu cùng ca từ đầu tiên của Bài ca hy vọng cũng đã đến với ông một cách thật đặc biệt:
Về tương lai, ngày quê hương màu xanh áo mới
chứa chan niềm tin
Đường ta đi xanh thắm mộng đời…
Ít người biết rằng, Bài ca hy vọng được nhạc sỹ Văn Ký bắt đầu một cách bất thường với những câu hát bay bổng ở giữa bài chứ không phải từ những câu đầu tiên của bài hát như vậy. Sau đó nhạc sỹ viết tiếp những đoạn cao trào với những nốt cao rạng rỡ nhất của ca khúc “…cùng ta cất cánh kìa ánh sáng chân trời mới đang bừng chiếu…”. Sau đó giai điệu từ từ đi xuống từng bậc ổn định và kết thúc với sự lắng lại của cảm xúc:
Gió mưa/ buồn thương/ mùa đông/ và mây mù/ sẽ tan…
Từ sự kết thúc đó, nhạc sỹ mới quay trở lại viết đoạn đầu của bài hát và hoàn thiện ca khúc hoàn chỉnh mà không hề có sự không liền mạch nào.

Ngay sau khi sáng tác xong, nhạc sỹ tự đệm và hát cho vợ nghe, nghe xong vợ của ông vô cùng xúc động và nói, ca khúc thực sự như tiếng lòng của miền Bắc gửi cho miền Nam, rất tha thiết và tình cảm. Văn Ký tiếp tục mang ca khúc “khoe” với nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý và cũng được nhạc sỹ Nguyễn Văn Tý khen ngợi về cách tư duy và phát triển ca khúc.
Tuy nhiên, sau đó, nhạc sỹ cất bài hát vào một chỗ, chưa gửi cho ca sỹ hay một bên để thu thanh. Phải 6 tháng sau, ông mới quyết định mang ca khúc tới Nhà xuất bản Âm nhạc. Và tiếc thay, ca khúc bị từ chối với lý do quá lãng mạn và lạc quan, không phù hợp với hoàn cảnh cách mạng của đất nước như hiện nay. Nhà xuất bản yêu cầu Văn Ký sửa lại ca khúc cho phù hợp tình hình hiện tại.
“Tôi đọc lại bản nhạc của mình, tất nhiên chủ yếu là phần lời, nhưng thấy không thể thêm bớt được một từ nào, nên không sửa” – Nhạc sỹ Văn Ký kể lại. Sau đó ông quyết định mang bài ca hy vọng tới Đài tiếng nói Việt Nam, và ngay lập tức, ca khúc được lãnh đạo Đài đồng ý. Ca khúc được phối khí và dàn dựng ngay lập tức với phần đệm piano của chính nhạc sỹ Văn Ký cùng nghệ sỹ Hoàng Mãnh, tiếng sáo của Lê Bích, và ca sỹ được “chọn mặt gửi vàng” là ca sỹ Khánh Vân với chất giọng sáng trong tha thiết. Đây cũng là một trong những ca khúc thành công nhất của nghệ sỹ Khánh Vân, mà sau này khi cô có dịp hát cho Bác Hồ nghe, Bác đã rất xúc động và nói: “Cháu hãy hát Bài ca hy vọng cho đồng bào miền Nam nghe nhé”.
Sau này, giai điệu của Bài Ca Hy Vọng qua tiếng hát của ca sĩ Khánh Vân đã lan tỏa tới miền Nam ruột thịt, nơi đồng bào và chiến sĩ đang xả than chống trả sự đàn áp của đế quốc. Bài hát đã trở thành vũ khí tinh thần cho những người hoạt động cách mạng miền Nam, và được tuyên truyền rộng khắp.

Đường ta đi lên, xây đời trong hoa thơm…
Nhạc sỹ Văn Ký kể lại rằng, khi ông viết Bài Ca Hy Vọng, ông không nghĩ rằng ca khúc sẽ được đón nhận vào thời điểm đó. Mà đây như một chút xúc cảm ông ghi lại riêng cho mình, một tiếng nói tin tưởng sắt son vào ngày mai tươi đẹp hơn. “Tôi nghĩ đơn giản rằng, con người ta phải có niềm tin vào tương lai. Tương lai là màu xanh hy vọng. Nó như một ý chính của tác phẩm”. “Tôi chỉ muốn khẳng định với riêng mình điều mà mình đã suy nghĩ sâu sắc và tin tưởng, rằng cách mạng sẽ nhất định thắng lợi” – Nhạc sỹ Văn Ký tâm sự.
Nhưng, có lẽ chính nhạc sỹ cũng không thể đoán trước được sự lan tỏa mạnh mẽ của ca khúc đến mọi miền trên khắp đất nước. Ngay khi được vang lên trên Đài tiếng nói Việt Nam, Bài Ca Hy Vọng đã tạo nên một “làn sóng” với khán giả nghe đài. Hàng loạt thư yêu cầu phát lại ca khúc từ khắp các tỉnh thành gửi về yêu cầu phát lại ca khúc. Đâu đâu cũng vang lên tiếng hát Bài Ca Hy Vọng..
Không tìm cách cụ thể hóa với những hình ảnh như nông trường, nhà máy, thống nhất… hay bắt gặp trong phần lớn ca khúc cùng giai đoạn này để kêu gọi sản xuất, chiến đấu, mà với những hình ảnh được khái quát hóa, lãng mạn hóa, ca khúc trở nên gợi cảm và có tính ẩn dụ nhiều hơn. Bài hát mang tầm tư tưởng cao đẹp, nhưng không nặng nề giáo điều, triết lý suông mà bình thản, nhẹ nhàng, nhưng lại có sức lay động lớn lao. Để cho đến tận bây giờ, Bài Ca Hy Vọng vẫn luôn có thể vang lên ở nhiều hoàn cảnh và thời điểm khác nhau, trở thành một trong những khúc ca đi cùng năm tháng nổi tiếng và được yêu mến nhất của lịch sử âm nhạc Việt Nam.
Không chỉ có vậy, với những giai điệu trữ tình, các thang âm được sắp xếp khéo léo, mềm mại, uyển chuyển, nên ca khúc dù nhỏ nhắn bình dị nhưng vẫn có âm hưởng hàn lâm và sang trọng, với nhạc tính vô cùng tinh tế. Cho nên gần như suốt hơn nửa thế kỉ từ khi ra đời, các giọng Soprano (nữ cao) nổi tiếng nhất của Việt Nam như Lê Dung, Bích Liên, Mỹ Bình, Măng Thị Hội, Tô Lan Phương, Ánh Tuyết, Rơ Chăm Pheng, Thanh Hoa… hay cả các giọng Tenor (nam cao) như Trung Kiên, Quang Thọ đều đã từng thử sức mình với Bài ca Hy vọng như một tác phẩm opera chuẩn mực.
Ca khúc cũng liên tục được chuyển soạn cho guitar, sáo trúc, violon, piano… phối khí cho dàn nhạc dân tộc, dàn nhạc giao hưởng, được sử dụng làm nhạc nền trong phim (phim Đừng đốt của đạo diễn Đặng Nhật Minh), và vang lên trong nhiều chương trình nghệ thuật lớn của đất nước.
62 năm đã trôi qua, đất nước đã đi qua chiến tranh, Nam Bắc hai miền đã thu về một mối, đúng như niềm tin và ý nguyện của nhạc sỹ Văn Ký đã gửi gắm trong tác phẩm của mình. Nhưng, dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, chiến tranh hay hòa bình, dù bom rơi đạn lửa hay nghèo khổ bão lũ, Bài ca hy vọng vẫn là một trong những khúc ca biểu tượng về một niềm tin và hy vọng, về một con đường “ta đi lên, xây đời trong hoa thơm”, một ngày mai tương sáng hơn cho tất cả người dân Việt Nam.


